Những đường phố mang tên nhà giáo - Văn hoá - Bài viết của Hội viên - Luu hoc sinh
Bài viết của Hội viên
Các trang chính

Thể loại bài viết
Văn hoá [125]
Thể thao [2]
Đời sống [120]
Pháp luật [4]
Thương mại [11]
Truyện cười [180]

Truy cập

Tìm theo thể loại

Thăm dò ý kiến
Thành lập báo Điện tử

[ Xem kết quả · Các thăm dò khác ]

Tổng số ý kiến: 44


» Thể loại  » Văn hoá

Các bạn hội viên có thể viết bài tại đây. Để chuyển sang chế độ thêm bài, các bạn hãy bấm vào "Thể loại"

Những đường phố mang tên nhà giáo

Những đường phố mang tên nhà giáo
Chu Văn An người huyên Thanh Trì - Hà Nội. Nổi tiếng chính trực, học vấn uyên thâm. Ông đậu Thái học sinh và ở nhà dạy học. Gần xa theo học rất đông. Những người nổi danh đương thời như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát... đều từng thụ giáo ông. Chu Văn An còn làm tư nghiệp Quốc Tử Giám. Đời Trần Dụ Tông, gian thần làm nhiều điều vô đạo, Chu Văn An dâng sớ xin chém 7 tên. Vua không nghe. Ông lui về ở ẩn. Sau khi mất (1370) Chu Văn An được thờ tại Văn Miếu, ngang hàng với các bậc hiền triết. Hà Nôi ngày nay có phố mang tên Chu Văn An.

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585, quê làng Cổ Am (nay thuộc Hải Phòng). Học giỏi, đỗ đầu 3 khoa (thi Hương, thi Hội, thi Đình). Là Trạng Nguyên, ông cũng chỉ làm quan 8 năm rồi về dạy học ở quê hương (bên dòng sông Tuyết Giang), được tôn xưng là "Tuyết Giang phu tử". Ông la thầy học của nhiều danh thần, danh sĩ: Lương Hưu Khánh, Phùng Khắc Khoan (trạng Bùng), Nguyễn Dữ (tác giả "Truyền kỳ mạn lục")..v.v.
Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại nhiều thơ văn (Hán, Nôm) ca ngợi đạo đức của con người chân chính và tố cáo sự thối nát của xã hội phong kiến đương thời.
Thủ đô Hà Nôi có phố Nguyễn Bỉnh Khiêm; Thành phố Hồ Chí Minh có tới 3 con đường mang tên ông (ở quận I, quận Gò Vấp, quận Thủ Đức).

Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822, mất năm 1888. Là nhà thơ lớn của dân tộc, là một trong những nhân vật tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của miền Nam tại thời kỳ đầu thực dân Pháp xâm lược, nhưng Nguyễn Đình Chiểu cũng là một nhà giáo (nhân dân thường gọi là Cụ Đổ Chiểu).
Nguyễn Đình Chiểu người vùng Gia Định xưa (nay thuộc TPHCM); 21 tuổi đỗ tú tài, đến 26 tuổi bi mù cả hai mắt. Từ đó, Nguyễn Đình Chiểu làm nghề dạy học. Bọn Pháp thấy Nguyễn Đình Chiểu có uy tín lớn trong dân chúng nên nhiều lần tìm cách mua chuộc nhưng trước sau, Nguyễn Đình Chiểu không cộng tác với quân cướp nước. Ông ở lại nông thôn, tiếp tục dạy hoc và sáng tác thơ văn, nêu cao đạo lý chính nghĩa, nêu cao lòng yêu nước, căm thù giặc. Hầu như ai cũng nhớ hai câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Nhiều tỉnh thành đã lấy tên Nguyễn Đình Chiểu đặt cho đường phố, cho trường học.

Võ Trường Toản người huyện Bình Dương cũ (nay thuộc TP. HCM) ông học rộng đức cao, không cầu danh, chỉ ở ẩn dạy học. Võ Trường Toản là người thầy đã có công đào tạo nên một loạt danh sĩ đất Gia Định xưa. Nguyễn ánh (sau là vua Gia Long) thường triệu ông đến giảng sách. ý muốn trọng dụng nhưng ông nhất định không nhận quan chức. Ông mất năm 1792 được ban mỹ hiệu: "Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh". Môn sinh của ông đã có đôi liễn tưởng niệm thầy. Dịch nghĩa là:
Khi sống, giáo huấn được người, không con như có con
Lúc chết thanh danh để lại, tuy mất mà không mất
Võ Trường Toản rất xứng đáng với danh xưng "Bách niên sư biểu" mà học giới Gia Định thời ấy đã dành cho ông.
Võ Trường Toản được đặt tên cho hai con đường (ở quận 5 và quận Bình Thạnh TP. HCM)

Nguyễn Văn Ngọc sinh năm 1890, mất nằm 1942. Nguyên quán: Hải Dương. Trên 30 năm (bằng hơn nửa cuộc đời ông) Nguyễn Văn Ngọc đứng trong giáo giới. Ông dạy học ở nhiều trường (tiểu hoc, cao đẳng tiểu học rồi trường Hậu bổ, trường sư phạm). Từng làm thanh tra các trường sơ học; phụ trách cục tu thư của nha hoc chính; Hội trưởng Hội ái hữu các nhà giáo. Năm 1934 được bổ nhậm đốc học tỉnh Hà Đông. Nguyễn Văn Ngọc còn biên soạn sách giáo khoa và sách nghiên cứu có giá trị. Ông rất quan tâm khai thác những vốn quý trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Hà Nội và TPHCM đều có tên đường phố Nguyễn Văn Ngọc.

Cao Xuân Huy (1900 - 1983), người Diễn Châu (Nghệ An). Cao Xuân Huy xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Ông nội (Cao Xuân Dục) đỗ cử nhân, làm đến thượng thư bộ Học, tổng tài quốc sử quán. Cha (Cao Xuân Tiếu) làm giáo
thụ Diễn Châu, sau thi đậu phó bảng - gia đình ông có một thư viện lớn vào bậc nhất nước. Cao Xuân Huy tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm năm 1925 - Ông đã dạy học ở Sài Gòn, Huế đồng thời nghiên cữu triết học. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 ông làm hiệu trưởng trường trung học Nguyên Xuân Ôn (Nghệ An). Ông còn giảng dạy tại nhiều trường đại học - làm giáo sư chính lớp Hán Nôm: Lại dạy các lớp chuyên tu sau đai học. Giáo sư Cao Xuân Huy đã làm công việc cao quý của người thầy giáo suốt hơn nửa thế kỷ. Nhiều thế hệ hoc trò đã có hạnh phúc được thụ giáo người thầy uyên bác, tân tụy: giáo sư Cao Xuân Huy.
Ở TPHCM có đường Cao Xuân Huy (tên người cháu) và đường Cao Xuân Dục (tên người ông).

Trường hợp hơi hiếm với giáo giới ta là: một gia đình ba anh em ruột cùng có tên trong sách giới thiệu "Đường phố thành phố Hồ Chí Minh" (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin - tháng 7/2001). Ba anh em Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm, Dương Tụ Quán, người làng Phú Thị, tỉnh Hưng Yên. Thân phụ (Dương Trọng Phổ) là một cụ đồ, có những hoạt động yêu nước nên năm 1909, cụ bị Pháp đầy ra Côn Đảo. Được tha về, cụ tiếp tục dạy học.
Dương Bá Trạc sinh năm 1884; nổi tiếng hay chữ; mới 16 tuổi đã đỗ cử nhân. Không muốn làm quan mà chỉ lo sao nước nhà thoát khỏi vòng nô lệ. Năm 1906 (22 tuổi) Dương Bá Trạc đã cùng Phan Chu Trinh tìm cách lên Yên Thế, gặp Hoàng Hoa Thám bàn kế hoạch đánh Pháp. Tiếp đó, Dương Bá Trạc tham gia Đông Kinh nghĩa thục, nhận các việc dạy học, diễn thuyết cổ động tân học, hô hào duy tân, tự cường. Lại được cử vào ban tu thư của nhà trường. Năm 1908, Dương Bá Trạc bị Pháp bắt, kết án 15 năm biệt xứ, đầy đi Côn Đảo. Được mấy năm, chúng đưa về an trí tại Long Xuyên. Tới 1917 mới tha, cho ra Bắc. Toàn quyền Pháp nhiều lần mua chuộc, bổ ông làm tri huyện nhưng ông vẫn khảng khái từ chối. Ông viết báo, làm sách. Một số tác phẩm đã được xuất bản.
Tháng 10/1943, ông bị quân Nhật ở Đông Dương đưa sang Singapore - năm sau (1944), ông bệnh nặng, mất ở đó.
Dương Bá Trạc được đặt tên cho một con đường ở quận 8 TP. HCM.
Dương Quảng Hàm là một nhà giáo liệt sĩ. Ông đã hy sinh tại Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (tháng 12/1946). Sinh năm 1898, đến năm 1920, Dương Quảng Hàm đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm. Từ đó, liền 25 năm, ông là giáo sư trung học. Cách mạng tháng Tám thành công, giáo sư được cử làm thanh tra trung học vụ rồi hiệu trưởng trường Chu Văn An (tức trường Bưởi cũ). Dương Quảng Hàm là người thầy mẫu mực, được tôn kính về nhân cách, về học vấn. Ông còn là nhà tu thư, đã viết nhiều sách giáo khoa (từ bậc tiểu học đến bậc trung học - có sách bằng tiếng Pháp). Chỉ riêng cuốn "Việt Nam văn học sử yếu" đã là một công trình làmm cho tên tuổi Dương Quảng Hàm được cả giáo giới và văn giới ngưỡng mộ từ hơn nửa thế kỷ qua. Cuốn "Việt Nam văn học sử yếu" ra đời năm 1941, đến nay đã được tái bản 14 lần. Trong những năm vừa qua, đã có nhiều buổi lễ kỷ niệm và hội thảo khoa học về giáo sư Dương Quảng Hàm nhằm ghi nhận công lao đào tạo và trước tác của giáo sư.
TP. HCM và thủ đô Hà Nội đều có đường phố Dương Quảng Hàm.
Dương Tụ Quán (1901 - 1969) là người em út. Thuở nhỏ học chữ Nho sau chuyển qua Tây học Từ 1921, làm thầy giáo dạy nhiều trường (ở Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nội, Sơn Tây).
Dương Tụ Quán cũng vừa dạy học vừa soạn sách. Có cuốn sách giáo khoa được dùng trong các trường tiểu học từ 1926 đến 1945. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuốn "80 bài thơ ca yêu nước" của ông soạn, đã được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho xuất bản để các trường kịp sử dụng ngay năm 1946.
Năm 1929, ông thôi dạy học, về lập nhà in, xuất bản sách và làm báo. Ông đã chủ trương các tờ "Văn học tạp chí", "Đông tây báo" (tờ này bị thực dân Pháp cấm năm 1935), "Ngày mới"... Ông cũng là người sáng lập tạp chí Tri Tân. Học trò ông (là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng) và các bạn của ông (như Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp...) đều là những cây bút thường xuyên cộng tác với tạp chí Tri Tân.
Qương Tụ Quán còn là tác giả một số sách nghiên cứu văn, sử và dịch thuật.
Ở huyện Bình Chánh - TP. HCM, có một con đường mang tên Dương Tụ Quán.

Hoàng Ngọc Phách (1896 - 1973), người huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), ông là nhà giáo, là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm Đông Dương, ông dạy học ở nhiều nơi, Cách mạng tháng Tám thành công, ông làm giám đốc học khu Bắc Ninh, rồi giám đốc giáo dục khu 12 (1945 đến 1951); giám đốc trường cao đẳng sư phạm trung ương. Lại ở trong ban tu thư của Bộ Giáo dục.
Nhiều tác phẩm của ông đã được xuất bản:
- Tố Tâm (1925), tái bản nhiều lần
- Thời thế với văn chương (1941)
- Thơ văn Nguyễn Khuyến (hợp soạn 1957)
- Giai thoại văn học Việt Nam (1965)
Quận Tân Bình (TP. HCM) và quận Đống Đa (Hà Nội) có đường phố Hoàng Ngọc Phách.

Đặng Thai Mai (1902 - 1984) quê: huyện Thanh Chương (Nghệ An), thân phụ là cụ Đặng Nguyên Cẩn, đỗ phó bảng, từng làm đốc học, nhưng do hoạt động yêu nước nên bị Pháp đầy ra Côn Đảo.
Đặng Thai Mai tốt nghiệp cao đẳng sư phạm năm 1928. Sau đó, ông dạy trường quốc học Huế. Hai lần, ông bị chính quyền thực dân cầm tù vì tham gia Đảng Tân Việt (một trong các tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dương) - ra tù, ông dạy học ở Hà Nội.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được nhận nhiều chức vụ (Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Thanh Hóa, Bộ trưởng Bộ Giáo dục...) lại là đại biểu Quốc hội, là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, Viện trưởng Viện văn học Việt Nam...
Ông còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị.
Quận Phú Nhuận (TP. HCM) và quận Tây Hồ (Hà Nội) có đường, phố Đặng Thai Mai.

Ca Văn Thỉnh (1902 - 1987), người huyện Mỏ Cày (Bến Tre).
Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm, ông dạy học một thời gian rồi làm đốc học Bến Tre, đồng thời nghiên cứu văn học, sử học. Nam Bộ kháng chiến, ông là ủy viên Uỷ ban kháng chiến, hành chính Nam Bộ. Năm 1946, tham gia phái đoàn Nam Bộ ra Trung ương, nhận nhiệm vụ quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục - năm 1952 trở về làm ủy viên tuyên huấn Trung ương cục miền Nam. Sau 1954, tập kết ra Bắc, từng làm công tác ngoại giao rồi giám đốc thư viện khoa học xã hội. Miền Nam hoàn toàn giải phóng (tháng 4/1975), ông tiếp tục làm Viện trưởng Viện khoa học xã hội (tại TP. HCM).
Ông là thân sinh nhà thơ liệt sĩ Ca Lê Hiến (bút danh Lê Anh Xuân)
Ca Văn Thỉnh là tên một con đường ở quận Tân Bình (TP. HCM)

Đào Duy Anh (1904 - 1988) nguyên quán Tả Thanh Oai (Hà Đông cũ), từ đời ông nội, chuyển cư vào Thanh Hoá.
Có bằng Thành chung (1923), ông làm giáo học tại Đồng Hời (Quảng Bình). Từ 1926, ông thôi dạy học, cộng sự với báo Tiếng dân (của cụ Huỳnh Thúc Kháng, 1927 tham gia Đảng Tân Việt; 1929 bị Pháp bắt; 1930 được trả tự do. Từ đó ông dạy tư ở Huế.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm việc tại Chi hội Văn nghệ liên khu 4, rồi lên Việt Bắc phụ trách Ban văn sử địa thuộc Bộ Giáo dục. Năm 1953 dạy lớp dự bị Đại học ở Thanh Hóa - Năm 1954 ra Hà Nội giảng dạy ở Đại học sư phạm và Đại học tổng hợp.
Sự nghiệp trước tác của ông cũng rất đồ sộ. Ông đã làm các bộ Từ điển (Hán Việt, Pháp Việt, Từ điển Truyện Kiều) cùng nhiều công trình nghiên cứu sử học, văn học và các lĩnh vực khác.
Quận Phú Nhuận (TP. HCM và quận Đống Đa (Hà Nội) có đường, phố Đào Duy Anh.

Hoàng Minh Giám (1904 - 1995) người làng Đông Ngại (nay thuộc Hà Nội). Cụ thân sinh là Hoàng Tăng Bí, tham gia Đông kinh nghĩa thục, sau đỗ phó bảng nhưng không ra làm quan.
Hoàng Minh Giám tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Đông Dương rồi làm giáo sư ở Huế, ở Phnom Pênh (Campuchia) - Sau ông từ chức, về dạy tư và làm phó hiệu trưởng trường tư thục Thăng Long ở Hà Nội.
Dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông được giao nhiều trọng trách trong Chính phủ và Quốc hội (Thư ký hội đồng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Văn hóa...).
TP. HCM có đường Hoàng Minh Giám ở quận Phú Nhuận.

Lê Văn Chí (1907 - 1993) quê Đồng Tháp. Tốt nghiệp cao đẳng sư phạm Đông Dương, ông về dạy học tại Mỹ Tho rồi chuyển lên Sài Gòn dạy trường Pétrus Ký. Nam Bộ kháng chiến, ông ra vùng tự do, tiếp tục dạy học và làm hiệu trưởng các trường trung học Nguyễn Văn Tố, Thái Văn Lung... Trong chống Mỹ cứu nước, ông làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam; uỷ viên Tiểu ban giáo dục thuộc Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam.
Đường Lê Văn Chí nằm ở quận Thủ Đức (TP. HCM)

Nguyễn Văn Huyên - Nhà bác học cả cuộc đời gắn bó với sự nghiệp khoa học và giáo dục nước nhà. Nguyễn Văn Huyên sinh ngày 16.11.1908 tại phố Thuốc Bắc, Hà Nội. Quê gốc của ông là làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Nguyễn Văn Huyên là người đặt nền móng cho ngành nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Từ năm 1944, ông đã công bố cho độc giả, nhất là độc giả phương Tây, biết rằng nhân dân Việt Nam đã phát triển văn hoá của mình đậm đà bản sắc dân tộc, đạt đến đỉnh cao như ông đã đặt tên cho một cuốn sách dày 280 trang xuất bản năm đó là "Văn minh Việt Nam". Nền văn minh này dựa vào một kết cấu xã hội hết sức đặc thù là Nhà - Làng - Nước tạo nên một sức mạnh tinh thần vô giá mà ngày nay đã thành một chân lý phổ biến: nói về văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đều đã khẳng định lại như vậy, hoặc lấy đó làm một tiền đề.
Ông có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng, góp phần khẳng định người Việt Nam có tín ngưỡng riêng của mình thể hiện qua việc thờ thành hoàng như Phù Đổng, Tản Viên, Chử Đồng Tử... Và từ luận án tiến sĩ đến những công trình công bố về sau như một hướng tập trung nghiên cứu của ông là văn học dân gian, lễ hội truyền thống, kiến trúc dân tộc, địa lý học lịch sử, cấu trúc giai tầng trong xã hội nông thôn. Đọc các tác phẩm của ông, các nhà nghiên cứu đều khâm phục tác giả đã thể hiện một phương pháp khoa học và văn phong mẫu mực. Nhưng một đặc trưng nổi bật hơn là những triết lý nói về cuộc sống của dân tộc Việt Nam, như qua mô tả lễ hội Phù Đổng ông đã đi đến khái quát rằng trung, hiếu, thuận, nghịch là nét đặc trưng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Một kết luận tổng quát rút ra từ tất cả các công trình nghiên cứu của ông đã nói lên sức sống của các dân tộc ở nước ta qua sự lao động hết sức sáng tạo của mình, "tự tạo lấy cuộc sống của riêng mình", "không chịu sao chép" (Văn minh Việt Nam, 1944, tr.131) máy móc của bất cứ ai.
Một đường phố ở thủ đô Hà Nội và ở thành phố Hồ Chí Minh được mang tên ông. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đặt trên đường Nguyễn Văn Huyên, một trường phổ thông cơ sở ở quê nội huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây và một trường nội trú ở Hà Nội đã được đặt tên là Trường Nguyễn Văn Huyên...

Hoàng Xuân Nhị (1914 - 1990) quê Đức Thọ (Hà Tĩnh). Thuở nhỏ, học ở Vinh (Nghệ An), Hà Nội. 1935: du học tại Pháp. Tốt nghiệp cử nhân triết học năm 1937. Năm 1946 về nước tham gia kháng chiến chống Pháp - từng làm giám đốc Sở Giáo dục Nam bộ - Viện trưởng Viên Văn hóa Nam Bộ. Sau tháng 7/1954, ông tập kết ra Bắc làm giáo sư đại học, chủ nhiệm khoa ngữ văn trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông đã biên soạn một số tác phẩm nghiên cứu văn hoc và dịch thuật.
TP. HCM có đường Hoàng Xuân Nhị ở quận Tân Bình.

Nguyễn Văn Dưỡng (1923 - 1962) là nhà giáo liệt sĩ. Quê ông, nay thuộc quân Phú Nhuận - TP. HCM. Ông du học ở Pháp từ trước từ chiến thế giới thừ 2; đậu tiến sĩ luật hoc. Về nước làm giáo sư Đại học Luật - Sài Gòn. Sau 1954, ông ở trong ban lãnh đạo phong trào hòa bình Sài Gòn - Gia Định, cùng luật sư Nguyễn Hữu Thọ đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn thi hành hiệp định Genève.
Năm 1955, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam: ông hy sinh ngày 21 tháng 7 năm 1962.
Tai quận Tân Bình (TP. HCM) có đường Nguyễn Văn Dưỡng

Nguyên Thị Diệu (1926 - 1955), nhà giáo liệt sĩ. Quê huyên Đức Phổ (Quảng Ngãi). Nguyễn Thị Diệu từng học ở Sài
Gòn - đậu tú tài - sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp quay trở lại, bà tham gia kháng chiến ngay. Được bầu vào ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc Nam bộ.
Tuy xuất thân từ gia đình quan lại triều đình Huế cũ nhưng bà sống giản dị, hòa mình với quần chúng. Năm 1950 bà xuống miền Tây hoạt động, học bơi xuồng để một mình đi công tác tới các vùng nông thôn hẻo lánh. Năm 1952 bà phụ trách công tác thuế nông nghiệp. Sau hiệp định Genève, bà về Sài Gòn dạy học tại trường tư thục Đức Trí để hoạt động bí mật. Bọn tay sai Ngô Đình Diệm phát hiện; bà bị bắt ngày 6-7-1955 giữa lúc đang đứng trên bục giảng. Chúng tra tấn bà đến chết, lúc đó bà đang mang thai.
TP. HCM có đường Nguyễn Thị Diệu (được đặt tên từ 1985).

Nhất Chi Mai (1934 - 1967), nhà giáo liệt sĩ. Tên thật: Phan Thị Mai, sinh tại xã Thái Hiệp Thành (Tây Ninh). Sau khi tốt nghiệp trường quốc gia sư phạm, cô làm giáo viên tiểu học ở trường Tân Định (Sài Gòn). Cô còn học Đại học văn khoa và cao đẳng Phật học Vạn Hạnh. Cô đã tham gia nhóm "Thanh niên phụng sự xã hội" (một hội đoàn thanh niên ở Sài Gòn lúc bấy giờ) - là người chị của hàng trăm trẻ em mồ côi, là người bạn của bao người nghèo tại các xóm lao động ngay nội ô Sài Gòn. Trước sự bạo tàn của quân xâm lược cô quyết lấy thân mình làm cây đuốc rực lửa, thúc đẩy đấu tranh chống Mỹ, Ngụy.
Ngày 8 tháng 4 Đinh Mùi (tức 16-5-1967), cô đã ngồi tự thiêu tại chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn) để lại thư tuyệt mệnh và nhiều di bút.
Đường Nhất Chi Mai nằm ở quận Tân Bình (TP. HCM).
Việc những đường phố mang tên nhà giáo xuất hiện ngày càng nhiều những năm vừa qua đã làm rạng rỡ hơn bao giờ hết truyền thống của nhà giáo Việt Nam trong thời đại mới.

Sưu tầm

Theo Liên Hoa (Báo GD&TĐ)

Thể loại: Văn hoá | Người bổ xung: PH (13-11-2006)
Số lượt xem: 643 | Nhận xét: 1 | Đánh giá: 0.0

Всего комментариев: 1
1  
Còn rất nhiều phố mang tên các nhà giáo ở Hà Nội. Ví dụ:
- Đốc học Trần Quý Cáp
- Giáo sư Tạ Quang Bửu
- Giáo sư Tôn Thất Tùng....
....................................................

Добавлять комментарии могут только зарегистрированные пользователи.
[ Регистрация | Вход ]
 
Các bài viết khác
Хостинг от uCoz